Bộ sưu tập hình ảnh Bác Hồ

Đây là bộ sưu tập khá nhiều hình ảnh về chủ tịch Hồ Chí Minh, được tập hợp vào một file powerpoint.
Kèm theo hình ảnh là tóm tắt tiểu sử và một số câu nói nổi tiếng của Người.
Mời bạn tải về tại đây.

Tấm lòng của Bác Hồ đối với thương binh, liệt sỹ

Tổ quốc ta suốt chiều dài hơn bốn ngàn năm là lịch sử chống giặc ngoại xâm, trong đó ghi dấu công lao của những người con nước Việt đem xương máu bảo vệ độc lập. Lịch sử đó đã hun đúc nên đạo lý “Uống nước nhớ nguồn”, “Ăn quả nhớ người trồng cây”...
Kế thừa truyền thống ngàn đời của dân tộc, Bác đúc kết đạo lý đó thành một trong những nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh. Suốt 24 năm trên cương vị người đứng đầu Nhà nước, Bác đã cùng Chính phủ thế chế hóa tư tưởng đó thành văn bản pháp quy của Nhà nước đối với thương binh, liệt sỹ; đồng thời, Người là một tấm gương sáng thể hiện tấm lòng biết ơn các thương binh, liệt sỹ.
Ngay từ ngày Cách mạng tháng Tám thành công, đất nước đang cảnh thù trong, giặc ngoài, Bác vẫn nghĩ đến công ơn của các thương binh, liệt sỹ. Trong bức thư của Bác đăng trên báo Cứu quốc ngày 07/01/1946, Người viết: “Vì muốn thay mặt Tổ quốc, toàn thể đồng bào và Chính phủ cảm ơn những liệt sỹ đã hy sinh tính mệnh cho nền Tự do, Độc lập, Thống nhất của nước nhà - hoặc trong thời kỳ cách mạng, hoặc trong thời kỳ kháng chiến, tôi gửi lời chào thân ái đến các gia đình liệt sỹ và tôi nhận các con liệt sỹ làm con nuôi của tôi ”.
Tấm lòng của Bác Hồ đối với thương binh, liệt sỹ
Bác dâng hương, đặt vòng hoa trước Tượng đài liệt sỹ tại thủ đô Hà Nội (31/12/1954). Ảnh tư liệu
Năm1946, Bác đã cùng Trung ương chỉ đạo thành phố Hà Nội thành lập Hội Liên hiệp quốc dân Việt Nam để giúp đỡ TBLS. Ngày 17/11/1946, Hội tổ chức lễ “Mùa đông binh sỹ”. Tại buổi lễ ra mắt của hội, Bác đã tặng chiếc áo rét Bác đang mặc, chiếc áo lụa và 1 tháng lương và đề nghị Chính phủ chọn một ngày để tỏ lòng biết ơn các TBLS.
Hội nghị Chính phủ vào tháng 6/1947, tổ chức tại xã Phú Minh, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên đã chọn ngày 27/7 hàng năm làm ngày TB-LS. Bác viết thư kêu gọi đồng bào giúp đỡ TB-LS đăng trên Báo Vệ Quốc quân số 11 ra ngày 27/7/1947, bức thư có đoạn viết: “Đang khi Tổ quốc lâm nguy, giang sơn, sự nghiệp, mồ mả, đền chùa, nhà thờ của tổ tiên ta bị uy hiếp. Cha mẹ, anh em, vợ con, ao vườn, làng mạc ta bị nguy ngập. Ai là người xung phong trước hết để chống cự quân thù? Đó là những chiến sỹ mà nay một số đã thành ra thương binh. Tôi kêu gọi đồng bào phải biết ơn, nhường cơm, sẻ áo giúp đỡ những người con anh dũng ấy”.
Kỷ niệm ngày 27/7 đầu tiên (1947), Bác viết thư căn dặn Ban tổ chức: “Thương binh là những người đã hy sinh gia đình, hy sinh xương máu để bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ đồng bào…Vì vậy Tổ quốc và đồng bào phải giúp đỡ những người con anh dũng ấy. Ngày 27/7 là dịp để đồng bào ta tỏ lòng hiếu nghĩa, bác ái, thương mến thương binh. Tôi xung phong gửi một chiếc áo lụa mà chị em phụ nữ biếu tôi, 1 tháng lương của tôi và các nhân viên tại Phủ Chủ tịch cộng lại là 1 127 đồng …”
Ngày 16/1/1947, Bác ký Sắc lệnh số 20/SL quy đinh chế độ hưu bổng, thương tật và tiền tử tuất. Ngày 03/10/1947, Bác ký Sắc lệnh thành lập Bộ Thương binh - Cựu binh (tiền thân Bộ LĐ-TB&XH ngày nay) để chuyên trách chăm lo công việc trọng đại này.
Tấm lòng của Bác Hồ đối với thương binh, liệt sỹ
Bác thăm Trại điều dưỡng thương binh tại Bắc Ninh. Ảnh tư liệu
Về phần mình Bác là tấm gương tiêu biểu biết ơn thương binh, liệt sỹ. Khi biết tin bác sỹ Vũ Đình Tụng là người trực tiếp khâu mổ vết thương cho các thương binh, chiến sỹ bảo vệ thành Hà Nội, có con trai là Vũ Đình Tín đã hy sinh trong những ngày Tổng khởi nghĩa, lại hay tháng chạp năm 1946, trong những ngày làm việc gần như kiệt sức, một thương binh rất nặng được chuyển vào viện nhưng miệng vẫn tươi cười; qua nụ cười bác sỹ Tụng nhận ra chiếc răng khểnh của đứa con trai mình, đó là anh Vũ Chí Thành và ông đã cắn răng dấu nỗi đau để thực hiện ca mổ; nhưng do vết thương quá nặng anh Vũ Chí Thành đã hy sinh, thì từ chiến khu Việt Bắc, Bác đã viết bức thư vô cùng xúc động:
Thưa Ngài!
Tôi được báo cáo rằng: Con trai của Ngài đã oanh liệt hy sinh cho Tổ quốc. Ngài biết rằng tôi không có gia đình, cũng không có con cái. Nước Việt Nam là đại gia đình của tôi. Tất cả thanh niên Việt Nam là con cháu tôi. Mất một thanh niên, thì hình như tôi đứt một đoạn ruột. Những cháu và anh em thanh niên khác dũng cảm hy sinh để giữ gìn đất nước. Thế là họ đã làm rạng rỡ dân tộc, vẻ vang giống nòi. Họ chết cho Tổ quốc sống mãi, tinh thần họ luôn luôn sống với non sông Việt Nam. Những thanh niên đó là anh hùng dân tộc. Đồng bào và Tổ quốc sẽ không bao giờ quên ơn họ. Ngài đem món quà quý báu nhất là con của mình sẵn sàng hiến cho Tổ quốc. Từ đây chắc Ngài sẽ thêm sức giúp việc kháng chiến bảo vệ nước nhà, thì linh hồn cháu ở trên trời cũng bằng lòng và sung sướng.
Tôi thay mặt Chính phủ cảm ơn Ngài, gửi Ngài lời chào thân ái và quyết thắng.
(Tháng Giêng năm 1947, Hồ Chí Minh)
Từ khi có Ngày TBLS, năm nào Bác cũng gửi thư và quà cho thương binh và gia đình liệt sỹ. Kỷ niệm ngày TBLS 27/7/1948, Bác gửi thư cho thương binh, gia đình liệt sỹ, trong đó có đoạn: “Họ quyết liều chết chống địch để cho Tổ quốc và đồng bào sống. Ngày nay bố mẹ họ mất một người con yêu quý. Vợ trẻ trở nên bà góa. Con dại trở nên mồ côi. Trên bàn thờ gia đình thêm môt linh bài liệt sỹ. Tay chân tàn phế của thương binh sẽ không mọc lại được. Và những tử sỹ sẽ không thể tái sinh”.
Tấm lòng của Bác Hồ đối với thương binh, liệt sỹ
Bác thăm hỏi, động viên chiến sĩ
Năm 1949, Bác gửi một số khăn mặt, áo quần, 1 tháng lương là 1000 đồng. Năm 1951 Bác tặng một số bộ quần áo. Năm 1952, Bác gửi 1 tháng lương, 2 phiếu công trái quốc gia (1 phiếu tương đương 1 tấn thóc). Năm 1953, Bác gửi 1 tháng lương và 30 chiếc khăn tay. Năm 1954, Bác gửi 1 tháng lương 45000 đồng và 30.000 đồng do 1 Việt kiều ở Trung Quốc tặng Bác…
Ngày 31/12/1954, Tượng đài liệt sỹ Hà Nội khánh thành, Bác cùng các đồng chí: Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp đến đặt vòng hoa. Trước Đài liệt sỹ hương trầm nghi ngút, Bác bùi ngùi, xúc động ứa nước mắt. Đồng chí Phạm Văn Đồng thay mặt Bác đọc lời điếu của Người:
“… Máu nóng của các liệt sỹ đã nhuộm lá quốc kỳ vẻ vang càng thêm thắm đỏ. Tiếng thơm của các liệt sỹ sẽ muôn đời lưu truyền sử xanh.
Một nén hương thành!
Vài lời an ủi!
Anh linh của các liệt sỹ bất diệt…”
Trước lúc đi xa, trong di chúc của Người còn dặn: “Đối với những người đã dũng cảm hy sinh một phần xương máu của mình (cán bộ, binh sỹ, dân quân, du kích, thanh niên xung phong…), Đảng, Chính phủ và đồng bào phải tìm mọi cách cho họ có nơi ăn chốn ở yên ổn, đồng thời phải mở lớp dạy nghề thích hợp với mỗi người để họ có thể dần dần tự lực cánh sinh… đối với cha mẹ, vợ con (của thương binh và liệt sỹ) mà thiếu sức lao động và túng thiếu thì chính quyền địa phương (nếu ở nông thôn thi chính quyền xã và hợp tác xã nông nghiệp), phải giúp đỡ họ có công ăn việc làm thích hợp, quyết không để họ bị đói rét…”.
Tư tưởng và tình cảm sâu sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với TBLS đã được toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta thấm nhuần sâu sắc, thực hiện tốt công tác đền ơn, đáp nghĩa. Đồng thời noi gương hy sinh anh dũng của những người con trung hiếu, chúng ta đã đạp bằng khó khăn, anh dũng chiến đấu đánh thắng hai đế quốc hùng mạnh là thực dân Pháp và đế quốc Mỹ giành Độc lập, Tự do cho dân tộc, thống nhất tổ quốc, xây dựng đất nước ngày càng giàu đẹp, dân chủ, văn minh.
Nguồn: baohatinh.vn

Một số bài thơ chúc tết của Bác Hồ

Xuân Quý Tỵ 2013, chúng ta không còn được nghe thơ chúc Tết, mừng Xuân của Bác Hồ, song những vần thơ chúc Tết năm xưa - những vần thơ vừa là khoa học vừa là nghệ thuật, vừa là kêu gọi vừa là mừng xuân của Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn sâu đậm mãi trong trái tim, khối óc mỗi người dân đất Việt. Cùng với thời gian, những sáng tạo tinh thần đó, những lời “tuyên truyền” đạt đến tầm nghệ thuật và khoa học ấy của vị Cha già dân tộc vẫn nặng lòng “chan chứa yêu thương”. Những vần thơ dung dị nhưng đầy nhân ái và triết lý ấy đã là “kim chỉ nam” cho hành động thực tiễn của toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta vững bước trên con đường hành trình tới tương lai tươi sáng của dân tộc.

Bản tình ca bất tử
Hơn 40 năm sau khi Chủ tịch Hồ Chí Minh rời xa chúng ta trở về với thế giới người hiền, mỗi độ xuân về, Tết đến, đồng bào và chiến sĩ cả nước, cùng cộng đồng những con dân đất Việt xa xứ không còn được lắng nghe những vần thơ chúc Tết của Người - những vần thơ “đúc kết những thắng lợi trong năm qua, đề ra những nhiệm vụ chiến lược của cả dân tộc trong năm mới, vừa mang sâu sắc cảm hứng lịch sử vừa chứa chất ý thơ” . Đi xa, “Hồ Chí Minh không còn với chúng ta theo nghĩa vật chất. Nhưng Người rất gắn bó với chúng ta về mặt đạo lý, tinh thần” nên 22 bài thơ chúc Tết được Người viết trong khoảng thời gian từ năm 1942-1969 thể hiện rõ khát vọng lớn lao “Tự do cho đồng bào tôi, độc lập cho Tổ quốc tôi”, “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”… của Hồ Chí Minh vẫn luôn là món quà tinh thần vô giá đối với đồng bào và chiến sĩ cả nước trong thời khắc thiêng liêng đất trời chuyển giao từ năm cũ sang năm mới.
Chủ tịch Hồ Chí Minh không phải là nhà thơ,  nhưng chính thơ đã là một phần của cuộc đời Người. Thơ Hồ Chí Minh, đặc biệt là những bài thơ chúc Tết, mừng Xuân giản dị, cô đọng, rất đỗi thân thương không chỉ là sự tổng kết thành quả của cách mạng trong năm cũ, mà còn là những chỉ dẫn kịp thời cho hành trình tiếp theo của sự nghiệp cách mạng nước nhà. Tư tưởng đó xuyên suốt trong toàn bộ cuộc đời hoạt động cách mạng của Người, đồng thời cũng là cảm hứng chủ đạo cho những vần thơ đón xuân mới của người Cha già dân tộc. Những vần thơ đơn sơ, bình dị, ngắn gọn, súc tích, dễ hiểu, dễ cảm của những lời “thành thật nôm na” rất Nghệ An ấy là sự kết tinh những giá trị truyền thống của dân tộc Việt Nam nói chung và đậm chất dân gian trong thi pháp thơ nói riêng, chan chứa ý thơ, chan chứa tấm lòng sâu nặng của một người luôn tận tâm, tận lực với dân, với nước.
Xuân này hơn hẳn mấy xuân qua
Thắng trận tin vui khắp nước nhà
Nam Bắc thi đua đánh giặc Mỹ
Tiến lên toàn thắng ắt về ta”.
Đó là bài thơ Xuân 68 của Bác- Bài thơ được coi là đỉnh cao của hiệu triệu đồng bào cả nước về mặt tinh thần vùng dậy cầm súng đánh Mỹ giải phóng nước nhà. Sau lời chúc Tết đêm giao thừa ấy, chiến công vang dội, nối tiếp truyền thống tiến công và đánh giặc của anh hùng Quang Trung trước đây. 20 ngày sau, đêm 20 rạng ngày 21/01/1968, mặt trận Khe Sanh nổ súng, giặc Mỹ hốt hoảng. Tướng Oét-Mô-Len vội vã tăng cường lực lượng chống giữ. Nhà Trắng và Lầu Năm Góc dự đoán có thể có “Một cái gì giống như Điện Biên Phủ”. Đòn nghi binh Khe Sanh, đòn chính của quân chủ lực ta nổ súng 10 ngày trước Tết Mậu Thân tạo thế bất ngờ, nhằm tiêu diệt, tiêu hao một bộ phận, vây hãm, giam chân chúng, tạo điều kiện cho các chiến trường miền Nam tổng tiến công và nổi dậy. Đúng đêm giao thừa và đêm Mồng 1 Tết Mậu Thân (30 và 31/01/1968) miền Nam đồng loạt tiến công và nổi dậy, một đòn thật mạnh, thật hiểm, thật bất ngờ và đồng loạt đánh vào các cơ quan đầu não chiến tranh của Mỹ ngụy ở các đô thị. Trong đó có những trận gây chấn động lớn như Tòa đại sứ Mỹ, Dinh độc lập ngụy, Bộ tổng tham mưu quân ngụy Sài Gòn và 25 ngày đêm làm chủ thành phố Huế. Sài Gòn cùng với 34/44 tỉnh lị, 5/6 thành phố lớn, 64/242 huyện lị của Mỹ ngụy đồng loạt bị tiến công. Đồng thời nhân dân nông thôn cũng nổi dậy diệt ác, phá kìm. Cuộc tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968 như một đòn sấm sét làm choáng váng trùm xâm lược Mỹ và chấn động toàn cầu. Tướng Oét bị cách chức. Bộ trưởng quốc phòng Mác-Na-Ma-Ra từ chức. Tổng thống Mỹ Giôn-xơn phải tuyên bố ngừng đánh phá miền Bắc, nhận đàm phán với ta tại hội nghị Pa-ri và không ra tranh cử tổng thống nhiệm kì 2 nữa. Dân chúng Mỹ càng bất mãn với chính phủ về cuộc chiến tranh phi nghĩa ở Việt Nam. Cuộc tổng tiến công và nổi dậy Xuân 68 đã tạo bước ngoặt của cuộc kháng chiến chống Mỹ của dân tộc ta và khởi đầu quá trình đi xuống về chiến lược của đế quốc Mỹ, từ chiến lược “Chiến tranh cục bộ” sang “Việt Nam hóa chiến tranh”. Bài thơ Xuân 68 phản ánh hiện thực ta giành thắng lợi trong kháng chiến chống Mỹ qua cuộc tổng tiến công nổi dậy đồng loạt trên khắp chiến trường miền Nam. Bác Hồ đặc biệt vui mừng nên chưa xuân nào Bác làm nhiều thơ bằng Xuân 68. Bên cạnh bài thơ “Mừng Xuân 68” còn có bài “Khen 11 cháu dân quân gái thành phố Huế” (03/1968) có câu: “Đánh giặc Hoa Kỳ phải nát xương”. Và dù “Đã lâu chưa làm bài thơ nào” nhưng có tin thắng trận là Bác vui làm bài thơ “Không đề” (03/1968) có câu “Bỗng nghe vần thắng vút lên cao”.
Đã hơn 40 năm trôi qua, Xuân 68 đã lùi vào dĩ vãng, nhưng những vần thơ của Bác về mùa xuân thắng trận ấy vẫn lấp lánh hơi thở mùa xuân, nó như một đòn bẩy động lực tinh thần to lớn, thúc dục hiệu triệu trái tim đồng bào cả nước vừa vui chiến thắng, vừa vững chắc tay súng bảo vệ nước nhà. Cho đến nay, những vần thơ của Bác về Xuân 68 vẫn vang vọng khắp non sông. Và dù thời gian có dài bao nhiêu, đất nước có thay đổi phồn vinh thế nào thì những vần thơ thép ấy vẫn trường tồn và sống mãi với thời gian như một bản tình ca bất tử.
Chất thép và chất tình
Thơ của Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ là “đường dẫn” ánh sáng cách mạng cho dân tộc tiếp bước, mà còn là tiếng lòng của một người đã dành trọn cuộc đời mình cho dân tộc. Những vần thơ đó không chỉ phản chiếu thực tiễn lịch sử của dân tộc, đậm đà chất thép như ánh lửa thức tỉnh tâm hồn, mà còn bình dị, gần gũi với tiếng nói của quần chúng nhân dân, như ngọn gió xuân ấm áp, truyền đến đồng bào, chiến sĩ cả nước con đường đi tới hạnh phúc và tự do. Bởi những vần thơ ấy vừa có chất thép vừa có chất tình, vừa có tinh thần nhân ái bao dung.
Xuân về xin có một bài ca
Gửi tới đồng bào cả nước ta
Đánh Mỹ hai miền đều thắng lợi
Tin mừng thắng trận nở như hoa
Vivenxiô Hôxê khi viết về thơ Hồ Chí Minh đã nhấn mạnh: Đó là những bài thơ “ngắn gọn, tỉnh táo và trong sáng, hoàn toàn cổ điển nhưng biểu lộ những tình cảm và những ý nghĩ của một chiến sĩ ở tuyến đầu của thời đại chúng ta”. Những vần thơ phong phú về tình cảm và sự nhạy cảm sôi nổi được biểu hiện bởi tài năng nghệ thuật huyền diệu, theo sự chỉ đường của trí thông minh rất Hồ Chí Minh, chính là tiếng lòng của “một ánh sáng sinh ra từ khổ đau như vậy làm thức tỉnh lý trí và con tim”. Luôn là con người hành động và là nhà thơ, hơn bao giờ hết, Hồ Chí Minh “làm thơ đâu chỉ vì tết, đâu chỉ vì thơ. Mà những điều lớn hơn thơ và tết nữa. Đấy là vì lòng tôn trọng các truyền thống tốt đẹp của nhân dân và để kêu gọi nhân dân đi lên con đường cách mạng” 
Với mục tiêu “Tìm đường đi cho dân tộc theo đi”, mùa xuân năm 1930, Hồ Chí Minh đã triệu tập và chủ trì Hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản, thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam. Mùa xuân năm 1941, Người đã trở về Tổ quốc, trực tiếp lãnh đạo phong trào cách mạng cả nước. Gửi vào bài thơ Mừng xuân năm 1942 (đăng trên báo Việt Nam độc lập, ngày 01/01/1942) khát vọng của mình và với tất cả nhuệ khí, sự bền bỉ không mệt mỏi của “Người dẫn đường”, Hồ Chí Minh đã lạc quan cổ vũ, động viên nhân dân niềm tin vào sự thành công của phong trào cách mạng thế giới và ký thác niềm tin về một ngày mai tươi sáng của cách mạng Việt Nam khi viết:
 Năm này là năm Tết vẻ vang
Cách mạng thành công khắp thế giới
 Cách mạng tháng Tám 1945 đã thành công, nhưng dã tâm xâm lược của thực dân Pháp đã buộc cả dân tộc một lần nữa phải bước vào cuộc kháng chiến thần thánh với tinh thần “Thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ” của Người. Cũng lại vẫn là Người - Hồ Chí Minh một lần nữa với sự mẫn cảm chính trị đã truyền đến đồng bào và chiến sĩ cả nước niềm hy vọng, niềm tin thắng lợi trong những vần thơ chúc Tết năm 1946:
Bao giờ kháng chiến thành công
Chúng ta cùng uống một chung rượu đào
Tết này ta tạm xa nhau
Chắc rằng ta sẽ Tết sau sum vầy
Kháng chiến dù rất gian khổ, song mỗi người dân Việt Nam yêu nước và những người yêu chộng hòa bình, tự do và công lý trên thế giới vẫn nhận thấy: Đằng sau vẻ dịu dàng của Hồ Chí Minh là một ý chí sắt thép; dưới bề ngoài giản dị của một Người là một tinh thần quật khởi, anh hùng, không gì uy hiếp nổi, và hiển hiện trong một con người mảnh khảnh ấy là hiện thân của tinh thần yêu tự do tha thiết và sự giải phóng hoàn toàn cho con người, vì con người. Điều đó thể hiện rõ trong lời hiệu triệu đầy chất hùng văn chiến thắng trong bài thơ chúc Tết năm 1947 của Người. Đây là Tết kháng chiến, Tết của lời kêu gọi:
Toàn dân kháng chiến, toàn diện kháng chiến
Chí ta đã quyết, lòng ta đã đồng.
 Đó chính là lời thúc giục lòng ta, khẳng định nội lực và nguồn sức mạnh đồng tâm, đồng chí, đồng lòng của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta trước họa ngoại xâm. Và gian khổ, thử thách của chiến tranh dường như lùi lại phía sau, khi cuồn cuộn chảy trong trái tim một Hồ Chí Minh yêu nước và thương dân là nét giản dị của ngôn từ và sự cô đúc tư tưởng được biểu đạt thành phương châm, thành khẩu lệnh trong những lời thơ tiếp theo thật giục giã và đầy sức mạnh cổ vũ:
Tiến lên chiến sĩ! Tiến lên đồng bào!
Sức ta đã mạnh, người ta đã đông
Trường kỳ kháng chiến, nhất định thắng lợi!
Thống nhất độc lập, nhất định thành công!.
Và mạch nguồn ấy, nguồn cảm hứng lãng mạn ấy, sự kết hợp giữa quyết tâm sắt đá và sự tiên tri của bậc thánh nhân Hồ Chí Minh hòa quyện với tâm hồn thơ của Nhà văn hoá kiệt xuất Hồ Chí Minh đã đưa cả dân tộc vượt mọi gian khó, từng bước giành thắng lợi trong cuộc trường chinh chống thực dân Pháp, vững vàng bước vào mùa xuân Quý Tỵ năm 1953:
Mừng phát động nông dân
Mừng hậu phương phấn khởi
Mừng tiền tuyến toàn quân
Mừng thi đua chiến thắng mới
Và tiếp đó, hướng đến xuân năm 1954 Bác viết:
 Kháng chiến, kiến quốc nhất định hoàn toàn thành công
Hoà bình, dân chủ Nam Bắc Tây Đông
Năm mới, thắng lợi càng mới, thành công càng nhiều
Thơ chúc Tết của Hồ Chí Minh dù được Người viết trong thời điểm lịch sử nào cũng đem đến cho ta ấn tượng của sức mạnh đoàn kết muôn người như một và sự dịu dàng “của trong và thật - sáng hai bờ suy tưởng. Sống hiên ngang mà nhân ái, chan hòa” đậm đà bản sắc dân tộc Việt. Từ những lời thơ chúc Tết ấy có thể thấy nhà lãnh đạo cách mạng Hồ Chí Minh và người nghệ sĩ đã hoà hợp với nhau trong một chất thép, xuyên suốt và nhất quán. Điểm đặc biệt trong toàn bộ 22 bài thơ chúc Tết của Hồ Chí Minh, trải dài từ năm 1942 - 1969 chính là “ngôn ngữ trong thơ đạt đến sự chắt lọc của những phương châm lớn nhưng không bị mài mòn về câu chữ, ngôn từ, như những tín điều với nhiều sáo ngữ. Tuy vẫn là cách nói gần gũi tự nhiên của cuộc đời, gần với lời nói thông thường nhưng cô đúc như phương châm”. Bởi vậy, khi đế quốc Mỹ kiên quyết phá hoại Hiệp định Giơnevơ, âm mưu biến miền Nam thành thuộc địa kiểu mới, thì cũng vẫn là một Hồ Chí Minh đã dành những “lời thân ái” chúc “miền Bắc thi đua xây dựng, miền Nam giữ vững thành đồng” kiên định, bền gan trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc nhân dịp đón xuân Bính Thân năm 1956.
Mùa xuân năm 1960 - Xuân Canh Tý, mừng Đảng ta tròn 30 tuổi, mừng Nhà nước ta “15 xuân xanh”, giản dị và hàm súc, tấm lòng, sự cởi mở, chân tình đầy sảng khoái của tâm hồn thi sĩ cách mạng Hồ Chí Minh thể hiện rõ qua lời thơ chúc Tết đồng bào và chiến sĩ cả nước: “Đường lên hạnh phúc rộng thênh thênh”. Trong những năm sau đó, thơ chúc Tết, mừng xuân của Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn luôn động viên, khích lệ đồng bào, chiến sĩ hai miền Nam Bắc vững tin vào tương lai tươi sáng của dân tộc, với một niềm tin tất thắng: Bắc Nam sum họp một nhà. Hồ Chí Minh không chỉ chúc: “Mừng năm mới, mừng xuân mới, Mừng Việt Nam, mừng thế giới” (1961), mừng “cả năm châu phơi phới cờ hồng” (1962) hướng đến “hoà bình thống nhất thành công”, “chủ nghĩa xã hội càng thắng lợi”, “hoà bình thống nhất quyết thành công”. Mùa xuân năm Quý Mão 1963 - Cách đây vừa tròn nửa thế kỷ, khi tin vui từ khắp chiến trường miền Nam và trên công trường xây dựng miền Bắc XHCN đang làm ấm lòng và cổ vũ quân dân hai miền Nam Bắc tiến lên phía trước với một tinh thần mới, cố gắng mới, bài thơ chúc Tết của Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi đến đồng bào và chiến sĩ dù ngắn gọn có 4 câu, 17 chữ, nhưng súc tích bao hàm nhiều ý nghĩa sâu xa:
Mừng năm mới 
Cố gắng mới 
Tiến bộ mới 
Chúc Quý Mão là năm nhiều thắng lợi.
Đồng lòng vừa sản xuất, vừa chiến đấu với tinh thần ”cố gắng mới, tiến bộ mới” (Thơ chúc Tết năm 1963), “thi đua sôi nổi”, “đấu tranh anh dũng” (Thơ chúc Tết năm 1965), “đoàn kết một lòng” (Thơ chúc Tết năm 1966). Theo lời kêu gọi và cổ vũ của Chủ tịch Hồ Chí Minh, hậu phương miền Bắc đã gồng mình, cố gắng vượt bậc hoàn thành nhiệm vụ củng cố, bảo vệ hậu phương lớn đối với tiền tuyến lớn miền Nam. Dù gian khó và phải hy sinh cả máu xương, quân dân miền Bắc đã sống, chiến đấu, lao động… và thi đua “mỗi người làm việc bằng hai vì miền Nam ruột thịt”, nhằm đảm bảo chi viện tối đa nhân tài, vật lực cho quân, dân miền Nam đánh thắng kẻ thù. Xuân Đinh Mùi năm 1967, trong niềm vui chiến thắng của quân dân hai miền Nam Bắc, lời thơ chúc Tết Chủ tịch Hồ Chí Minh reo vui một bài ca chiến đấu và chiến thắng: 
Xuân về xin có một bài ca
Gửi chúc đồng bào cả nước ta
Chống Mỹ hai miền đều đánh giỏi
Tin mừng thắng trận nở như hoa
Mùa xuân 1968, từ thực tiễn hào hùng của những chiến công vang dội trên khắp các chiến trường miền Nam và của công trường xây dựng CNXH ở miền Bắc, chúc Tết xuân 1968, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã truyền đến quân, dân hai miền Nam Bắc tinh thần và sức mạnh của lịch sử hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước, của tinh thần và ý chí tiến công kẻ thù. Vẫn rất ngắn gọn, dễ hiểu, vẫn là những dự cảm thiên tài về tính tất thắng của cuộc chiến tranh nhân dân:
Xuân này hơn hẳn mấy xuân qua
Thắng trận tin vui khắp nước nhà
Nam Bắc thi đua đánh giặc Mỹ
Tiến lên! Toàn thắng ắt về ta
                Thơ chúc Tết xuân 1968 của Chủ tịch Hồ Chí Minh là một bài ca chiến thắng hào hùng. Không chỉ thôi thúc, động viên, khích lệ toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta tiến lên, “quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược”, những vần thơ ấy còn là tấm lòng, tình cảm và sự khát khao tin chiến thắng ở quê nhà của Chủ tịch Hồ Chí Minh (khi đó Người đang nghỉ chữa bệnh ở Trung Quốc).
Năm 1969, Chủ tịch Hồ Chí Minh để lại bài thơ chúc Tết, mừng Xuân cuối cùng:
 Năm qua thắng lợi vẻ vang
 Năm nay tiền tuyến chắc càng thắng to
Vì độc lập, vì tự do
Đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào
Tiến lên! Chiến sĩ, đồng bào
Bắc Nam sum họp, xuân nào vui hơn!.
Có thể nói, bài Mừng xuân 1969 là một trong số những bài thơ hay nhất của Chủ tịch Hồ Chí Minh viết về tinh thần tiến công và niềm vui chiến thắng của quân dân ta trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Những vần thơ hào sảng ấy, thể hiện khát vọng, tinh thần, ý chí “Không có gì quý hơn độc lập, tự do” và niềm tin “Bắc Nam sum họp một nhà” của Người, của toàn dân tộc đã trở thành khẩu lệnh tiến công, giục giã quân, dân ta tiến đến thắng lợi cuối cùng… Sáu mùa xuân sau bài thơ Mừng xuân 1969 ấy, cuộc Tổng tiến công nổi dậy mùa Xuân 1975 đã mang lại niềm vui chiến thắng cho toàn dân tộc. Niềm tin yêu và khát vọng độc lập, tự do, thống nhất Tổ quốc hàm chứa trong 22 bài thơ chúc Tết, mừng Xuân của Người đã trở thành hiện thực.
Đón Xuân Quý Tỵ 2013, chúng ta không còn được nghe thơ chúc Tết, mừng Xuân của Người, song những vần thơ chúc Tết năm xưa - những vần thơ vừa là khoa học vừa là nghệ thuật, vừa là kêu gọi vừa là mừng Xuân của Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn sâu đậm mãi trong trái tim, khối óc mỗi người dân đất Việt. Cùng với thời gian, những sáng tạo tinh thần đó, những lời “tuyên truyền” đạt đến tầm nghệ thuật và khoa học ấy của vị Cha già dân tộc vẫn nặng lòng “chan chứa yêu thương” và “dẫn đường” cho toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta vững bước trong hành trình đi đến tương lai. Dùng thơ chúc Tết để biểu đạt lòng mình, nói như GS.Hoàng Như Mai thì trong những vần thơ ấy, lời chúc ấy của Người, “chúng ta thấy cả tấm lòng của lãnh tụ đối với dân, với nước”. 22 bài thơ ấy chính là “ quà tặng của Bác cho nhân dân mỗi khi xuân về, xuân sau hơn xuân trước và cứ như vậy mãi mãi về sau”, tuyên truyền, khích lệ, cổ vũ quân, dân đoàn kết, thi đua, tiến lên giành những thắng lợi mới.
Nhà phê bình Hoài Thanh đã nói, ”non một phần tư thế kỷ, một thế kỷ già trẻ, gái trai chúng ta được nuôi dưỡng bằng thơ Bác, bằng ánh sáng và yêu thương” và không dừng ở đó, trong hành trình đi tới tương lai tươi sáng, mùa xuân này, toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta tiếp tục thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI) gắn với đẩy mạnh học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh theo Chỉ thị 03 của Bộ Chính trị với tinh thần, ý chí và quyết tâm mới. Người đã đi xa, nhưng Người vẫn rất gần. Toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta dường như được tiếp thêm sức mạnh từ chính những vần thơ chúc Tết của Người – những vần thơ phản ánh “tinh thần đồng tâm nhất trí giữa lãnh tụ và quần chúng cách mạng trên mỗi bước đi của thời gian, của lịch sử dân tộc”. Đồng hành cùng dân tộc và thời đại, tầm tư tưởng vĩ đại và chủ nghĩa nhân văn Hồ Chí Minh hàm chứa trong những lời thơ chúc Tết, mừng Xuân của Hồ Chí Minh từ năm 1942-1969 luôn là sức mạnh nội lực, là ánh sáng của tương lai, chỉ đường cho dân tộc ta, non sông đất nước ta kiên định, vững bước trên hành trình xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN./.
Nguồn: tuyengiao.soctrang.gov.vn

Di chúc của chủ tịch Hồ Chí Minh


VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HÒA
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
---000---
........................................
Cuộc chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta dù phải kinh qua gian khổ, hy sinh nhiều hơn nữa, song nhất định thắng lợi hoàn toàn.
Đó là một điều chắc chắn.
Tôi có ý định đến ngày đó, tôi sẽ đi khắp hai miền Nam Bắc, để chúc mừng đồng bào, cán bộ, và chiến sĩ anh hùng; thăm hỏi các cụ phụ lão, các cháu thanh niên và nhi đồng yêu quý của chúng ta.
Kế theo đó, tôi sẽ thay mặt nhân dân ta đi thăm và cảm ơn các nước anh em trong phe xã hội chủ nghĩa, và các nước bầu bạn khắp năm châu đã tận tình ủng hộ và giúp đỡ cuộc chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta.
***

Ông Đỗ Phủ là người làm thơ rất nổi tiếng ở Trung Quốc đời nhà Đường, có câu rằng: “Nhân sinh thất thập cổ lai hy”, nghĩa là: “Người thọ 70, xưa nay hiếm”.
Năm nay, tôi vừa 79 tuổi, đã là hạng người “xưa nay hiếm” nhưng tinh thần, đầu óc vẫn rất sáng suốt, tuy sức khỏe có kém so với vài năm trước đây. Khi người ta đã ngoài 70 xuân, thì tuổi tác càng cao, sức khỏe càng thấp. Điều đó cũng không có gì lạ.
Nhưng ai mà đoán biết tôi còn phục vụ cách mạng, phục vụ Tổ quốc, phục vụ nhân dân được bao lâu nữa?
Vì vậy, tôi để sẵn mấy lời này, phòng khi tôi sẽ đi gặp cụ Các Mác, cụ Lênin và các vị cách mạng đàn anh khác, thì đồng bào cả nước, đồng chí trong Đảng và bầu bạn khắp nơi đều khỏi cảm thấy đột ngột.
Trước hết nói về Đảng – Nhờ đoàn kết chặt chẽ, một lòng một dạ phục vụ giai cấp, phục vụ nhân dân, phục vụ Tổ quốc, cho nên từ ngày thành lập đến nay, Đảng ta đã đoàn kết, tổ chức và lãnh đạo nhân dân ta hăng hái đấu tranh tiến từ thắng lợi này đến thắng lợi khác.
Đoàn kết là một truyền thống cực kỳ quý báu của Đảng và của dân ta. Các đồng chí từ Trung ương đến các chi bộ cần phải giữ gìn đoàn kết nhất trí của Đảng như giữ gìn con ngươi của mắt mình.
Trong Đảng thực hành dân chủ rộng rãi, thường xuyên và nghiêm chỉnh tự phê bình và phê bình là cách tốt nhất để củng cố và phát triển đoàn kết và thống nhất của Đảng. Phải có tình đồng chí thương yêu lẫn nhau.
Đảng ta là một đảng cầm quyền. Mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư. Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ trung thành của nhân dân.
Đoàn viên và thanh niên ta nói chung là tốt, mọi việc đều hăng hái xung phong, không ngại khó khăn, có chí tiến thủ. Đảng cần phải chăm lo giáo dục đạo đức cách mạng cho họ, đào tạo họ thành những người kế thừa xây dựng chu nghĩa xã hội vừa “hồng”, vừa “chuyên”.
Bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau là một việc rất quan trọng và rất cần thiết.
Nhân dân lao động ta ở miền xuôi cũng như ở miền núi, đã bao đời chịu đựng gian khổ, bị chế độ phong kiến và thực dân áp bức bóc lột, lại kinh qua nhiều năm chiến tranh.
Tuy vậy, nhân dân ta rất anh hùng, dũng cảm, hăng hái, cần cù. Từ ngày có Đảng, nhân dân ta luôn đi theo Đảng, rất trung thành với Đảng.
Đảng cần phải có kế hoạch thật tốt để phát triển kinh tế và văn hóa, nhằm không ngừng nâng cao đời sống của nhân dân.
Cuộc kháng chiến chống Mỹ có thể còn kéo dài. Đồng bào ta có thể phải hy sinh nhiều của, nhiều người. Dù sao, chúng ta phải quyết tâm đánh giặc Mỹ đến thắng lợi hoàn toàn.
Còn non, còn nước, còn người
Thắng giặc Mỹ, ta sẽ xây dựng hơn mười ngày nay!
Dù khó khăn gian khổ đến mấy, nhân dân ta nhất định sẽ hoàn toàn thắng lợi. Đế quốc Mỹ nhất định phải cút khỏi nước ta. Tổ quốc ta nhất định sẽ thống nhất. Đồng bào Nam Bắc nhất định sẽ sum họp một nhà. Nước ta sẽ có vinh dự lớn là một nước nhỏ mà đã anh dũng đánh thắng 2 đế quốc to – là Pháp và Mỹ; và đã góp phần xứng đáng vào phong trào giải phóng dân tộc.
Về phong trào Cộng sản thế giới – Là một người suốt đời phục vụ cách mạng, tôi càng tự hào với sự lớn mạnh của phong trào Cộng sản và công nhân quốc tế bao nhiêu, thì tôi càng đau lòng bấy nhiêu vì sự bất hòa hiện nay giữa các đảng anh em!
Tôi mong rằng Đảng ta sẽ ra sức hoạt động, góp phần đắc lực vào việc khôi phục lại khối đoàn kết giữa các đảng anh em trên nền tảng chủ nghĩa Mác – Lênin và chủ nghĩa quốc tế vô sản, có lý, có tình.
Tôi tin chắc rằng các đảng anh em và các nước anh em nhất định sẽ phải đoàn kết lại.
* * *
Về việc riêng – Suốt đời tôi hết lòng hết sức phục vụ Tổ quốc, phục vụ cách mạng, phục vụ nhân dân. Nay dù phải từ biệt thế giới này, tôi không có điều gì phải hối hận, chỉ tiếc là tiếc rằng không được phục vụ lâu hơn nữa, nhiều hơn nữa.
Sau khi tôi đã qua đời, chớ nên tổ chức điếu phúng linh đình, để khỏi lãng phí thì giờ và tiền bạc của nhân dân.
* * *
Cuối cùng, tôi để lại muôn vàn tình thân yêu cho toàn dân, toàn Đảng, cho toàn thể bộ đội, cho các cháu thanh niên và nhi đồng.
Tôi cũng gửi lời chào thân ái đến các đồng chí, các bầu bạn, và các cháu thanh niên nhi đồng quốc tế.
Điều mong muốn cuối cùng của tôi là: Toàn Đảng, toàn dân ta đoàn kết phấn đấu, xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh, và góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới.
Hà Nội, ngày 10 tháng 5 năm 1969
HỒ CHÍ MINH
Nguồn:  tuoitre.vn

Bác Hồ và Đảng ta với công tác thiếu niên nhi đồng

Ngay từ ngày thành lập, Đảng ta đã rất quan tâm đến công tác thiếu niên nhi đồng. Tại Hội nghị BCH Trung ương Đảng lần thứ nhất (10/1930) và lần thứ hai (3/1931), Đảng đã có những quyết định quan trọng về công tác thanh niên, về tổ chức Đồng Tử Quân, thiếu niên cách mạng và giao cho Đoàn thanh niên phụ trách thiếu nhi.
Từ đó, nơi nào có chi bộ Đảng và tổ chức Đoàn thanh niên thì nơi đó tổ chức và phong trào đội thiếu nhi phát triển và hoạt động một cách tích cực. Phong trào Xô Viết Nghệ Tĩnh 1930 - 1931 trên quê hương Bác Hồ kính yêu đã có nhiều đội Đồng Tử Quân tham gia đấu tranh thành lập chính quyền Xô Viết. Theo số liệu lưu trữ, trong chính quyền Xô Viết Nghệ Tĩnh có 513 đội viên thiếu niên do các chi bộ Đoàn hoặc tự vệ hướng dẫn hoạt động. Không chỉ có vậy, khắp nơi trên đất nước ta, các Đội thiếu nhi Canh đế, Đội thiếu nhi Xích vệ cũng đã tham gia hoạt động cách mạng. Sôi nổi nhất là thiếu nhi vùng Tứ Trưng, Thượng Trủng, Vĩnh Tường, Vĩnh Phú; đội Đồng Tử Quân tỉnh Thái Bình (mang tên “Trẻ chăn trâu”), nhất là ở huyện Tiền Hải đã theo người lớn đi đấu tranh chống sưu cao, thuế nặng; Đội thiếu niên Dục Tài gồm con em công nhân, công chức, nhà buôn là người Việt Nam ở tỉnh Vân Nam, Trung Quốc, đã không quản ngại gian khổ, cùng với thiếu nhi cả nước nhận nhiệm vụ làm giao thông liên lạc, canh gác, bảo vệ các cuộc họp của Đảng, khi cần theo cha mẹ, anh chị đi đấu tranh...
bac-ho-thieu-nhi-a
Bác Hồ chung vui với các cháu trong ngày Quốc tế Thiếu nhi 01/6/1969
Năm 1941, sau 30 năm xa Tổ quốc, Bác Hồ về nước trực tiếp lãnh đạo phong trào cách mạng. Cùng với những công việc đại sự, Người còn chú ý ngay đến phong trào thiếu nhi, Bác vừa giáo dục các em theo tinh thần cách mạng, vừa coi các em là một lực lượng cách mạng. Ý Đảng - lòng Bác đã gặp nhau ở một điểm, đó chính là tinh thần của Nghị quyết Trung ương Đảng lần thứ 8 (5/1941): ... tổ chức ra các đoàn thể cứu quốc như “Nhi đồng cứu vong Đoàn” là đoàn thể cứu quốc của trẻ em và giao cho Đoàn Thanh niên phụ trách. Trên quan điểm đó, ngày 15/5/1941, tại thôn Nà Mạ, xã Trường Hà, huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng, Đội TNTP, Hội Nhi đồng cứu vong được thành lập với 5 đội viên đầu tiên đó là: Nông Văn Dền với bí danh Kim Đồng; Nông Văn Thàn, tức Cao Sơn; Lý Văn Tịnh, tức Thanh Minh; Lý Thị Ni, tức Thủy Tiên và Lý Thị Xậu, tức Thanh Thủy. Nông Văn Dền (tức Kim Đồng) được bầu làm đội trưởng đầu tiên. Các thành viên của Đội đã làm lễ tuyên thệ suốt đời trung thành với Đảng, tuyệt đối giữ bí mật cho dù phải hy sinh đến tính mạng cũng không phản bội lại nhân dân, phản bội lại cách mạng.
Tháng 02 năm 1948, dù đang bận trăm công ngàn việc, nhưng Bác Hồ kính yêu vẫn luôn theo sát phong trào thiếu nhi. Người đã có thư để định hướng công tác cần làm cho tuổi nhỏ. Công tác Trần Quốc Toản. Bác căn dặn: “Các cháu tổ chức những đội Trần Quốc Toản... Trước thì giúp những nhà chiến sĩ, nhà thương binh, lần lượt giúp những nhà ít người. Sức các cháu làm được việc gì thì giúp việc ấy. Thí dụ: quét nhà, gánh nước, lấy củi, xay lúa, giữ em, dạy chữ quốc ngữ... Các cháu nên hiểu rắng: giúp đỡ đồng bào tức là tham gia kháng chiến... luyện tập tinh thần siêng năng và bác ái để sau này trở thành công dân tốt...”. Đối với cán bộ phụ trách thiếu nhi, Người định hướng một cách cụ thể: “Với trẻ, dạy trẻ, cần làm cho các em biết yêu Tổ quốc, thương đồng bào, yêu lao động biết vệ sinh, giữ kỷ luật, học văn hóa. Tuy nhiên phải giữ toàn vẹn tính vui vẻ, hoạt bát, tự nhiên... không nên làm cho các em “già sớm”. Hơn thế, người phụ trách thiếu nhi cần phải liên lạc mật thiết với cha mẹ và thầy giáo của thiếu nhi. Người nói thật chí tình, chí lý: “Ngày nay chúng là thiếu nhi. Ít năm sau, chúng sẽ là công dân, cán bộ. Vì vậy, Chính phủ, các đoàn thể, và tất cả đồng bào đều có trách nhiệm giúp sức vào việc giáo dục thiếu nhi”. “Giáo dục thiếu nhi là một khoa học” nên người phụ trách phải cố gắng học tập, nghiên cứu, trao đổi kinh nghiệm, nhất là phải làm kiểu mẫu trong mọi việc. Những định hướng đó của Người cho đến bây giờ vẫn còn nguyên giá trị. Chúng tôi, thế hệ thiếu nhi ngày ấy sẽ không sao quên được lời Bác dạy năm nào: “Các cháu phải ghét, ghét cay đắng bọn thực dân Pháp, bọn can thiệp Mỹ, bọn Việt gian, bọn bù nhìn. Vì chúng nó mà ta khổ. Các cháu phải yêu, yêu Tổ quốc, yêu đồng bào, yêu lao động. Các cháu phải gắng, gắng giúp đỡ thương binh và gia đình chiến sĩ, gắng học hành. Các cháu phải đoàn kết, đoàn kết giữa nhi đồng Việt Nam với nhau và đoàn kết với nhi đồng thế giới...”. Và hành trang vào đời, hành trang cùng chúng tôi vượt qua mọi gian nan thử thách để chiến đấu và chiến thắng thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược chính là những lời căn dặn đó của Người.
Cho đến bây giờ, chắc hẳn còn nhiều bạn thiếu nhi, nhiều anh chị phụ trách, nhiều thầy giáo, cô giáo, có thể còn chưa biết xuất xứ của 5 điều Bác Hồ dạy thiếu nhi. Riêng chúng tôi, không sao quên được lần kỷ niệm 20 năm Ngày thành lập Đội TNTP - ngày 15/5/1961. Ngày ấy chúng tôi được anh chị phụ trách đọc cho nghe thư của Bác gửi thiếu niên, nhi đồng toàn quốc. Trong thư, Bác nhắc đến sự hy sinh của anh Kim Đồng, Lê Văn Tám và nhiều bạn khác. Đặc biệt, Bác Hồ nhắc đến nỗi nhớ của Người với thiếu nhi miền Nam anh hùng đang bị Mỹ - Diệm áp bức đày đọa. Bác căn dặn: “Các cháu cũng tham gia đấu tranh bằng cách thực hiện mấy điều sau đây: Yêu Tổ quốc, yêu đồng bào; Học tập tốt, lao động tốt; Đoàn kết tốt, kỷ luật tốt; Giữ gìn vệ sinh thật tốt; Khiêm tốn, thật thà, dũng cảm”. Mười năm trước ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, Bác Hồ và Bác Tôn có gửi cho thiếu nhi miền Nam một bức thư với tình yêu thương và lòng tin tưởng: “Bắc Nam sẽ sum họp một nhà/ Bác cháu ta họp mặt, trẻ già vui chung/ Nhớ thương các cháu vô cùng/ Mong sao mỗi cháu là một anh hùng thiếu nhi”.
Phát huy tinh thần và ánh sáng của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng ta đã và đang rất coi trọng công tác thiếu nhi. Bởi Đảng, Nhà nước ta và mọi người không bao giờ quên lời nhắc nhở của Người trước lúc đi xa: “Thiếu niên, nhi đồng là người chủ tương lai của nước nhà. Vì vậy, chăm sóc và giáo dục tốt các cháu là nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân (...) Trước hết, các gia đình phải làm thật tốt công việc ấy. Các Đảng ủy đường phố... Ủy ban Thiếu niên, nhi đồng, Đoàn Thanh niên, ngành giáo dục và các ngành các đoàn thể khác cần phải có kế hoạch cụ thể chăm sóc, giáo dục các cháu ngày càng khỏe mạnh và tiến bộ”.
Nguồn: bqllang.gov.vn

Lăng Bác được thiết kế như thế nào?


Sau 3 tuần làm việc trên tinh thần hợp tác và khẩn trương, phương án thiết kế sơ bộ của ta đã được bạn đồng ý. Lăng Bác được thiết kế có độ bền vững cao, đủ khả năng chống được bom đạn và động đất cường độ 7 richter, có công trình bảo vệ đặc biệt để ngăn không cho nước tràn vào nếu Hà Nội bị vỡ đê. Kính quan tài phải chịu được xung lực cơ học lớn. 

Ngay sau ngày Hồ Chủ tịch qua đời, việc xây dựng Lăng của Người đã trở thành mong mỏi của toàn Đảng, toàn dân, như một cách bày tỏ ý nguyện tiếp tục đi theo con đường cách mạng của Người. Vì thế, sau lễ tang Bác, "Ban phụ trách qui hoạch A" gồm các đồng chí Nguyễn Lương Bằng, Trần Quốc Hoàn, Phùng Thế Tài… đã nghiên cứu qui hoạch về việc xây dựng Lăng Hồ Chủ tịch.
Công trình là thể hiện ý Đảng, lòng dân
Trong phiên họp ngày 29/11/1969, Bộ Chính trị quyết định phải thực hiện tốt nhất nhiệm vụ gìn giữ lâu dài thi hài Hồ Chủ tịch và việc xây dựng Lăng của Người phải đảm bảo chống được các biến động của khí hậu, thời tiết, phòng chiến tranh, thể hiện được tính dân tộc mà hiện đại, thuận tiện cho mọi người đến thăm viếng.
Tháng 1/1970, cùng với việc cử Đoàn cán bộ sang Việt Nam bàn về thiết kế Lăng Bác, Chính phủ Liên Xô cũng thông báo sẽ giúp đỡ kỹ thuật trong thiết kế, xây dựng và trang bị cho Lăng.
Bản "Dự thảo nhiệm vụ thiết kế Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh" do các chuyên gia Liên Xô và Việt Nam đưa ra sau một tuần đã được Bộ Chính trị thông qua, đánh dấu mốc lịch sử đầu tiên của thời kỳ chuẩn bị thiết kế Lăng. Các bạn Liên Xô cũng đã chuẩn bị 5 phương án về bố trí cụm tổng thể của Lăng, cho thấy tinh thần làm việc nghiêm túc, tri thức khoa học và cả tình cảm đặc biệt mà nhân dân Liên Xô dành cho Bác Hồ.
Tin xây dựng Lăng Bác lan truyền trong nhân dân, nên có rất nhiều thư ở cả 2 miền Nam, Bắc và Việt kiều ở nước ngoài gửi về bày tỏ ý kiến đóng góp.
Theo nguyện vọng của nhân dân, Bộ Chính trị quyết định lùi việc duyệt bản thiết kế sơ bộ đã được thông qua, để tổ chức đợt sáng tác mẫu thiết kế Lăng và trưng bày các mẫu đó, lấy ý kiến của nhân dân. Cuộc vận động đã nhận được hưởng ứng của các tầng lớp nhân dân.

Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Quảng trường Ba Đình. Ảnh:T.H..
Chỉ từ tháng 5/1970 tới 8/1970, Ban Tổ chức đã nhận được hơn 200 phương án thiết kế và Hội đồng sơ tuyển đã lựa được 24 phương án, đem trưng bày tại Hà Nội, Hải Phòng, Thái Nguyên, Sơn La và Nghệ An. Có tới 745.487 lượt người tới thăm và 34.022 người tham gia ý kiến, cho thấy chủ trương vận động quần chúng tham gia thiết kế và đóng góp ý kiến là sáng suốt.
Bên cạnh ý kiến về các phương án trưng bày, còn có những ý kiến về vị trí Lăng: Có người đề nghị Lăng nên nằm trong vườn Phủ Chủ tịch gần nhà sàn, có người muốn Lăng đặt trước Phủ Chủ tịch, có ý kiến muốn Lăng xây gần Tam Đảo, gần Đền Hùng, hoặc ở quê hương Bác…
Kết thúc đợt triển lãm, đoàn cán bộ Việt Nam mang theo bản "thiết kế sơ bộ" đã tổng hợp các ý kiến của nhân dân sang Liên Xô. Sau 3 tuần làm việc trên tinh thần hợp tác và khẩn trương, phương án thiết kế sơ bộ của ta đã được bạn đồng ý.
Lăng được thiết kế có độ bền vững cao, đủ khả năng chống được bom đạn và động đất cường độ 7 richter, có công trình bảo vệ đặc biệt để ngăn không cho nước tràn vào nếu Hà Nội bị vỡ đê. Kính quan tài phải chịu được xung lực cơ học lớn. Thiết kế đưa thêm "buồng đặc biệt" để khi có chiến tranh, vẫn giữ được thi hài tại chỗ.
Do việc thiết kế đã mất 2 năm, nên dự định hoàn thành Lăng vào năm 1971 không thực hiện được. Đảng và Chính phủ Liên Xô đã cử các cán bộ đầu ngành, những chuyên gia xuất sắc sang Việt Nam, như đồng chí I-xa-co-vích Ga-ron - một kiến trúc sư nổi tiếng từng nhận Giải thưởng Quốc gia, phụ trách kiến trúc sư trưởng của đồ án; bộ đội công binh Liên Xô đảm nhiệm công trình bảo vệ đặc biệt và ngành du hành vũ trụ thiết kế và chế tạo thiết bị quan tài …
Ngày 3/11/1971, Ban phụ trách xây dựng Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh được thành lập, do Phó Thủ tướng Đỗ Mười làm Trưởng ban. Ngày 5/2/1972, Thủ tướng Chính phủ ra quyết định phân công nhiệm vụ cho các Bộ, ngành, địa phương tham gia xây dựng Lăng Bác, mà lực lượng nòng cốt là Bộ Kiến trúc và Bộ Quốc phòng.
Nhưng đúng lúc công việc đang tiến hành, thì ngày 16/4/1972, Mỹ đã cho máy bay bắn phá miền Bắc, trọng điểm là Hà Nội và Hải Phòng. Tình thế này buộc Bộ Chính trị quyết định dừng việc xây dựng Lăng, để nhân dân cả nước dồn sức đánh bại kẻ thù.
Nhưng ngay khi Hiệp định Paris được ký kết, việc xây dựng Lăng đã tiếp tục được khởi động. Tối 29/1/1973, chỉ 1 ngày sau khi Hiệp định được công bố, Ban phụ trách xây dựng Lăng đã họp để truyền đạt chỉ thị của đồng chí Trường Chinh, nhắc nhở các lực lượng xây dựng Lăng "Không được phép nghỉ ngơi, không cho phép chậm trễ". Để rồi, 2/9/1973, lễ khởi công xây dựng Lăng Bác, công trình văn hóa và lịch sử của đất nước đã diễn ra trong sự trông đợi của mọi người.
"Ngôi nhà của Bác" - nơi hội tụ những tấm lòng
Vượt lên hoàn cảnh vô cùng khó khăn sau chiến tranh, các cán bộ chuyên môn của Nhà máy Xi măng Hải Phòng đã tập trung sức lực, trí tuệ để nghiên cứu loại xi măng đặc biệt dùng cho công trình. Hàng vạn mét khối đá dăm được đưa từ mỏ đá Hoàng Thi (Thác Bà, Yên Bái) về Ba Đình.
Hàng trăm xe cát lựa chọn từ Kim Bôi (Hòa Bình), Thanh Xuyên (Thái Nguyên) được đưa về Hà Nội. Nhân dân Nam Bộ, Tây Nguyên và Quảng Nam - Đà Nẵng, Bộ đội Trường Sơn cũng gửi những cây gỗ quí hiếm mấy trăm năm tuổi đóng góp dựng Lăng. Hai vạn miếng đá hoa cương và cẩm thạch mài nhẵn đã đi từ đất nước của Lênin đến Ba Đình, để trang trí cho Lăng Bác.
Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh xứng đáng là một công trình văn hóa, nghệ thuật lớn. Toàn bộ khối Lăng được kết cấu bằng đá của các miền đất nước.
Mặt ngoài Lăng và nền, các bậc thang được ốp đá hoa cương. Chữ "Chủ tịch Hồ Chí Minh" trên nóc Lăng được ghép bằng đá ngọc Cao Bằng. Cửa chính ốp đá đen bóng. Các tường và cột bằng đá cẩm thạch, riêng tường chính tiền sảnh ốp đá hoa cương vân đỏ hồng tươi, làm nền cho dòng chữ "Không có gì quý hơn độc lập, tự do" và chữ ký của Bác đều mạ vàng rực rỡ.
Phòng Bác nằm ốp đá cẩm thạch Hà Tây. Trên tường có 2 lá cờ Đảng và cờ Tổ quốc lớn, được ghép từ 4.000 miếng đá hồng ngọc lấy từ dãy núi trùng điệp của Thanh Hóa, búa liềm và sao năm cánh được ghép bằng đá cẩm vân vàng sáng.
200 bộ cửa trong Lăng được làm từ các loại gỗ do đồng bào và chiến sĩ miền Nam gửi ra, do các thợ mộc giỏi của Nam Hà, Hà Bắc, Nghệ An thi công. Cánh cửa vào phòng thi hài Bác do 2 bố con người thợ nổi danh ở làng Gia Hòa đóng với những kỹ xảo điêu luyện.
Chiếc giường Bác nằm trong Lăng là một công trình kỹ thuật và nghệ thuật đỉnh cao của những người thợ bậc thầy ở 2 nước Việt - Xô. Giường được chế tác bằng đồng, có dải hoa văn bông sen được cách điệu, 3 mặt giường lắp kính có độ an toàn cao. Nóc giường bằng kim loại, có hệ thống chiếu sáng đặc biệt gồm 20 loại đèn nhiều tia có thiết bị điều chỉnh ánh sáng và hệ thống điều hòa tự động. Giường được đặt trên bệ đá, có hệ thống thang máy nâng, hạ tự động…
Có thể nói rằng, đến Lăng Bác, là đến một nơi hội tụ những tấm lòng của nhân dân Việt Nam và bạn bè quốc tế, đặc biệt là của nhân dân Liên Xô, đã dành cho Danh nhân văn hóa thế giới, Anh hùng dân tộc Hồ Chí Minh
Dạ Miên
Nguồn: www.cand.com.vn
Phim tài liệu về quá trình xây dựng lăng Bác


Thanh niên phải làm gì


Thanh niên ta tuy đã có một đoàn thể của mình là Đoàn Thanh niên Việt Nam, nhưng vẫn có một số đông chưa tổ chức, chưa hoạt động - Vì sao thế?
            Theo sự nhận xét riêng của tôi, thì do những khuyết điểm này:
1- Tổ chức chỉ có bề rộng mà không có bề sâu. Xem trên báo, thì thấy tỉnh này đã thành lập Đoàn, tỉnh kia cũng thế. Nhưng về các huyện, các làng thì ít nơi biết Đoàn Thanh niên Việt Nam.
Phần đông thanh niên trong tổ chức là thanh niên trí thức. Còn nữ thanh niên và thanh niên các từng lớp khác, như binh sĩ, công nhân, nông dân, v.v., thì rất hiếm.
2- Mục đích thì nêu ra nhiều khẩu hiệu quá. Đích nghĩa là nhằm vào đó mà bắn. Nhiều đích quá thì loạn mắt, không bắn trúng đích nào. Thậm chí không ai nhớ được những khẩu hiệu đó.
Vậy chỉ nên nêu ra vài khẩu hiệu chính, thiết thực và phổ thông, cho mỗi thanh niên có thể hiểu, nhớ và luôn nhằm vào đó mà theo.
3- Chương trình công tác thì quá rộng rãi mà kém thiết thực.
Đặt ra kế hoạch và chương trình không xét rõ năng lực của những người thi hành kế hoạch và chương trình đó. Thành thử việc gì cũng muốn làm mà việc gì làm cũng không triệt để.
Tôi thường nghe anh em trong Đoàn Thanh niên Việt Nam người thì phàn nàn rằng thiếu công việc để hoạt động, người thì phàn nàn Đoàn thiếu cán bộ.
Nếu thanh niên biết tìm thì không thiếu gì công việc, cũng không thiếu gì cán bộ.
Vài thí dụ: Nếu Đoàn Thanh niên Việt Nam khéo động viên và tổ chức nam nữ thanh niên trí thức, xung phong ra phụ trách công việc tiêu diệt giặc dốt thì tất cả thanh niên trí thức đều có công việc, mà Đoàn sẽ có công to với quốc dân. Nếu Đoàn khéo động viên và tổ chức nam nữ thanh niên nông dân xung phong ra phụ trách công việc tăng gia sản xuất, thì thanh niên trong thôn quê sẽ đều hoạt động, mà Đoàn sẽ có công to với Chính phủ. Còn nhiều việc khác, thanh niên có thể làm.
Bất kỳ công việc gì, cũng có người hăng hái hơn, đắc lực hơn, có sáng kiến hơn. Nếu Đoàn khéo chú ý, tìm tòi, cất nhắc thì đó là những cán bộ. Có lẽ những thanh niên đó viết không giỏi, nói không kêu nhưng họ làm được việc. Đó là cái chính. Thanh niên cần nhiều cán bộ như thế.
Thanh niên cần phải có chí tự động, tự cường, tự lập.
Phải có khí khái ham làm việc, chứ không ham địa vị.
Phải có quyết tâm, đã làm việc gì thì làm cho đến nơi đến chốn, làm cho kỳ được.
Phải có lòng ham tiến bộ, ham học hỏi, học luôn, học mãi. Học văn hoá, học chính trị, học nghề nghiệp.
Phải có lòng kiên quyết tham gia kháng chiến để tranh cho kỳ được thống nhất và độc lập, dân chủ và tự do.
Như thế, mới xứng đáng thanh niên là chủ nhân tương lai của nước nhà.
A.G.
Báo Sự thật, số 89,ngày 10-2-1948.
Theo Hồ Chí Minh toàn tập, tập 5, n.2011, tr463-464
Kim Yến (st)
Nguồn: www.bqllang.gov.vn